/Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong/. Thơ Thanh Tịnh

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

Văn xuôi

CA DAO TỤC NGỮ VỀ ĐẠI HỎA TRÙNG, TỨC RƯƠI

Đây là câu ca ở huyện Tứ Kỳ cổ, từ năm 1838 thuộc huyện Vĩnh Bảo. Thời nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, từ tháng 07/2025 thuộc thành phố Hải Phòng

CA DAO TỤC NGỮ VỀ ĐẠI HỎA TRÙNG, TỨC RƯƠI

.

       Loài động vật thân đốt, mà tên Hán Việt là đại hỏa trùng, còn tên Nôm là rươi biển. Nó sống và phát triển ở vùng nước lợ ven biển. Trước đây thì giá trị của nó rất bèo, từ thời cơ chế thị trường nó trở thành một đặc sản. Có nhiều câu ca dao tục ngữ, thành ngữ về loài thân đốt này, chúng tôi xin cung cấp cho bạn đọc một số câu tiêu biểu:

       1-

Rau âm phủ nấu với mủ L… tiên

Ngựa ông Cao Biền nấu với ả L… treo.

       (Đây là câu ca ở huyện Tứ Kỳ cổ, từ năm 1838 thuộc huyện Vĩnh Bảo. Thời nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, từ tháng 07/2025 thuộc thành phố Hải Phòng. Còn rau âm phủ là măng, mủ L tiên là đại hỏa trùng (tên Nôm là rươi), còn ả L treo là quả khế, ngựa ông Cao Biền là con rốc, tức cua đồng. Đây là hai món ngon của Hải Phòng)

       2-

Tháng chín ăn rươi

Tháng mười ăn ruốc

       (Đây là câu thành ngữ nói về thời gian có hai loài động vật vùng ven biển là đại hỏa trùng, tên Nôm là rươi và thủy thần, tên Nôm là ruốc)

          3-

Tháng chín động rươi

Tháng mười động ra

Tháng ba động rạm

       (Câu ca ở huyện Vĩnh Bảo. Cà ra, gọi tắt là ra là loài cua nước ngọt, trông giống cua biển. Còn rạm cũng là một loài cua nhưng kích thức nhỏ hơn)

          4-

Bao giờ trâu đực sinh con

Gà trống đẻ trứng, trăng tròn ba mươi

Khi nào tháng chạp có rươi

Tháng giêng gặt lúa em thời lấy anh

       (Câu ca dao này áp dụng cho vùng ven biển phía Bắc về rươi, chứ ở miền Nam cuối tháng chạp vẫn có rươi với câu ca: “Dù ai buôn bán trăm nghề. Ba mươi tháng chạp nhớ về vớt rươi”)

          5-

Bao giờ cho đến tháng mười

Bát cơm thì trắng bát rươi thì đầy

       (Câu ca này nói về mùa thu hoạch đại hỏa trùng (rươi) và vụ lúa mùa)

          6-

Tháng chín ăn rươi

Tháng mười ăn nhộng

       (Câu ca này nói về vào vụ rươi và vụ ươm tơ dệt vải)

          7-

Sắp tới muà rươi

Quýt tươi vào vụ

       (Vào mùa thu hoạch rươi cũng là vào vụ thu hoạch quýt)

          8-

Kẻ ăn rươi

Người chịu bão

       (Sự so sánh về kẻ được hưởng lộc và người chịu hậu quả)

          9-

Kẻ cắp như rươi

       (Câu ví von về kẻ cắp quá nhiều)

          10-

Thả vỏ quýt

Ăn mắm rươi

       (Một thành ngữ ví von khá hay trong cuộc sống)

          11-

Xin đừng coi cứt như rươi

Tép riu ví với tôm tươi sao đành

       (Câu ví von so sánh khá hay trong trong cuộc sống)

          12-

Tháng chín đôi mươi

Tháng mười mùng năm

       (Dự báo về mùa thu hoạch rươi tại vùng đồng bằng Bắc Bộ)

          13-

Ăn rươi chịu bão cho cam

Không ăn chịu bão thế gian cũng nhiều

       (Câu ca dao mang một triết lý sâu sắc về những thử thách trong cuộc đời)

.

          Thi An sưu tầm