VIDEO
Tin nóng
QUẢNG CÁO
LỊCH
LIÊN KẾT
Thơ
TRƯỜNG CA - TỔ KHÚC XIBIA
Câu ngạn ngữ Nga ở Xibia “Богатства тайги не в золоте, а в кедрах да соболях”, nghĩa nôm na là “Sự giàu có của rừng taiga không nằm ở vàng, mà ở cây tuyết tùng và chồn nâu”.TỔ KHÚC XIBIA(1)
(Trường ca của Tô Ngọc Thạch, gồm 7 khúc)
.
I- KHÚC MỞ
…
(Tiếp)
.
3-
Ấn tượng Xibia
hiện ra mút mắt
Vùng đất bao la
hơn mười ba triệu cây số vuông
Với gần ba mươi triệu
mảnh đời vấn vương
Bí ẩn sững sờ
Vùng đất bạt ngàn
rừng taiga(1) ngút ngắt
Rộn ngợp loài hoang dã
giấu mình trong giá rét
Vùng đất chữ tượng hình
chữ Nga xoắn bện vào nhau
Người tóc vàng
tóc đen chung một con tàu
Tiếng cười ăm ắp
Những thiếu nữ mắt màu xanh biếc
Nụ cười thơm
chúm chím vầng đông
Giọng nói ấm êm
như rót mật vào lòng
Ai ươm tơ tóc em
Da em ai nhuộm tuyết
Ai nhuộm tuổi em hồng
Đôi má, lửa ai đốt
Ai thả biển đông Xibia
vào trong mắt nai
Ngọn sóng hoang
vỗ nát tôi dọc một thời trai
Như mảng bè vỡ
để thẩm ngấm vị mặn mòi biển cả…
Trời Viễn Đông
dang tay rộng mở
Đón ta về như tiếng mẹ lời ru
Nốt thời gian
tỏa vòng sóng nên thơ…
.
4-
Dịch sang cực đông
bất ngờ gặp Vladivostok(2)
“Phên giậu Xibia” giữ từng tấc đất
Vịnh nhỏ vịnh to
vịnh trước vịnh sau đẹp đến ngỡ ngàng
Những con tàu sinh lực nở nang
Vượt dông tố tỏa năm châu bốn bể
Luồng lạch mở
dập dồn con sóng vỗ
Thành phố kết giao
với đất cảng Hải Phòng
Những chuyến hàng thời chiến(3)
vượt bến đợi bờ mong
Vun đắp tình
Việt Nga ngày thêm khởi sắc
“Chủ nhân phương Đông”
“Miền đất với vô số ngọn đồi
và bao cây cầu tuyệt tác(4)
Nối liền các đảo khác vào nhau
Ai đến nơi đây đừng quên câu:
“Crưm cùng vỹ độ,
còn Kolưm cùng kinh độ”(5)
Tiếng đại bác(6) rền vang
nhấn vào cõi nhớ
Pháo đài cổ muôn đời chẳng thể ngủ yên
Ai một lần đến đây chắc chẳng thể quên
Vladivostok
Cầu Vàng cầu Nga cầu Amur(7)…
và muôn nhịp cầu đang bắc
Sóng xô bờ vỗ bạc đất cực đông
“Gió ngược chiều ta, thổi sau lưng…”(8)
Lúc ra khơi ngư dân quăng lưới vét
“Hè về nhiều cá tôm là niềm hạnh phúc”(9)
Mịt mờ hơi sương
Giữa bờ tây Thái Bình Dương
“Vladivostok bị sương mù nuốt chửng”(10)
“Chủ nhân phương Đông”
Chủ nhân cả vùng trời vùng biển
Cần cẩu vươn tầm hối hả bạc thời gian
Tiếng còi tàu khắc khoải loang loang…
.
Ra khơi ban sớm mơ màng
Bình minh trước mặt, chiều hoàng hôn buông…
__________
(1): Ý theo câu ngạn ngữ Nga ở Xibia “Богатства тайги не в золоте, а в кедрах да соболях”, nghĩa nôm na là “Sự giàu có của rừng taiga không nằm ở vàng, mà ở cây tuyết tùng và chồn nâu”.
(2): Tiếng Nga Владивосто́к, nghĩa nôm na là “chủ nhân phương Đông”, là thành phố cảng lớn nhất vùng Viễn Đông thuộc vùng Primorsky. Thành phố này có kết giao với thành phố Hải Phòng và sau còn thêm với tp. Hồ Chí Minh. Nơi đây là trụ sở của hạm đội Thái Bình Dương, LB Nga.
(3): Thời chiến tranh chống Mỹ tại Việt Nam
(4): Theo ý câu ngạn ngữ Nga tại vùng này “Владивосток - город сопок и мостов”
(5): Câu ngạn ngữ Nga tại đây “Широта - то крымская, да долгота колымская”, nghĩa nôm na là cùng vĩ độ với đảo Krưm ở biển Đen và cùng kinh độ với Kolưm thuộc vùng Kolưm phía đông bắc Xibia. Nghĩa câu này là khí hậu của thành phố nơi đây rất khắc nghiệt, mùa đông giá rét thường kèm với độ ẩm cao và gió buốt. Còn mùa hè thì ẩm ướt mưa nhiều, bờ biển đôi khi bị bao phủ bởi lớp sương mù dày dặc.
(6): Nghi lễ bắn đại bác giữa trưa (12 giờ) hàng ngày, là một truyền thống quân sự và hàng hải đặc sắc tại thành phố cảng Vladivostok. Sau một số lần tạm dừng, truyền thống này đã được khôi phục lại để giúp người dân và du khách dễ dàng chỉnh giờ, đồng thời tôn vinh vị thế thành phố pháo đài lịch sử của nước Nga. Thường được thực hiện tại khu vực Pháo đài cổ Vladivostok hay tại Bến tàu số 33.
(7): Cầu bắc qua vịnh Sừng Vàng gọi là cầu Vàng, cầu qua eo biển đông Bosphorus (vịnh Peter Đại đế) nối ra đảo Nga gọi là cầu Nga, còn cầu bắc qua vịnh Amur gọi là cầu Amur.
(8): Câu ngạn ngữ Nga về khí hậu ven biển ở vùng này “Фордевинд нам дует в спину - не пора ли к магазину?”, nghĩa nôm na là “gió thuận chiều rồi đó, chẳng phải đã đến lúc ra cửa hàng rồi sao”. Nghĩa bóng nôm na là thời cơ thuận lợi để ra khơi hay nghỉ ngơi sau một chuyến đi thành công, được ngư dân sử dụng nói về thời tiết biển.
(9): Câu ngạn ngữ Nga về mùa hè tại vùng đất này “Если лето рыбное - счастье”, nghĩa nôm na là “Mùa hè nhiều tôm cá, đó là niềm hạnh phúc”.
(10): Câu ngạn ngữ Nga ở vùng đất này “Туман съел Владивосток”, nghĩa nôm na là “sương mù đớp hết Владивосток”. Có nghĩa là sương mù dày đặc (còn gọi là sương sữa) che lấp hoàn toàn các tòa nhà, cầu cống, tàu thuyền… vào một số ngày mùa xuân hay hè, gây nhiều phiền toái cho cuộc sống.
.
Tô Ngọc Thạch
(Còn nữa)

