/Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong/. Thơ Thanh Tịnh

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

Về thơ văn bạn bè

ĐẶC SẮC BÚT KÝ VÀ TẢN VĂN CỦA TÔ HOÀNG

Vậy là rõ rồi ! Hãy công bằng và khách quan với mình, với lịch sử....

ĐẶC SẮC BÚT KÝ VÀ TẢN VĂN CỦA TÔ HOÀNG

Nhà văn Ma Văn Kháng

( Đọc “Lính già mau nhớ lâu quên”. Bút ký - Tản văn của nhà văn Tô Hoàng. Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2026)

 

ĐỌC HỒI ỨC-TẢN VĂN CỦA “LÍNH GIÀ” TÔ HOÀNG, XÚC ĐỘNG, NGẬM NGÙI, CAY ĐẮNG!  Cả một thời hiện lên chân thực từng chi tiết mà những ai không trải qua -
      Chiến tranh giải phóng dân tộc đương đầu với một tên đế quốc sừng sỏ là Mỹ, gian khổ vất vả hy sinh là chuyện đương nhiên. Đã có bao cuốn sách, bài viết vể những đau thương các chiến sĩ phải gánh chịu.Tô Hoàng cũng viết về chuyện này, nhưng anh có cách nói riêng.Tôi lẩy ra đây máy đoản văn đặc sắc về đề tài này.

      Một. Trên đường hành quân, tới Cự Nẫm, một ngôi làng bên bờ sông Gianh, trạm dừng chân cuối cùng trên đất Bắc, nơi nổi tiếng với chiếc nón Ba Đồn, lính ta cùng với thư viết vội, không ai bảo ai đều mua ngay một chiếc nón gởi về cho người yêu hậu phương.”Nón thương nón nhớ đợi nón chờ.Em đội chiếc nón mà ngờ chiêm bao.Anh đi đánh giặc nơi xa .Em đội nón lá ở nhà đợi anh”. Có bao nhiêu chàng trai đã trở về để thoả lòng mong đợi của người yêu? Tô Hoàng viết: “Trong 11 thằng lính Hà Nội tiểu đội tôi mua nón Ba Đồn gửi về cho người yêu qua phà Ròn đêm ấy đã nằm lại trên chiến trường mất 8 thằng”.

      Hai. B52 là máy bay ném bom tọa độ . Tên giặc lái chiếc máy bay gieo chết chóc này cứ việc bấm nút thả bom xuống những địa điểm mà máy bay trinh sát của chúng đã chỉ điểm vì nghi rằng đó là nơi tập kết quân, bãi khách trạm giao liên, bến qua sông, ngã ba ngã tư bộ đội hành quân qua. Tô Hoàng viết : “Liệu đã đến lúc nói ra hay chưa, nếu những người đồng đội bất hạnh hứng chịu loạt bom tọa độ như thế , hỏi làm sao tìm được hài cốt và cái “gia tài” lính tráng nghèo nàn ít ỏi anh lính còn để lại trên cõi đời này ? “

      Ba: Số là vào mùa mưa 1970, quân địch chủ trương xây dựng các cứ điểm kiên cố bằng các hàng rào ken dầy sắt thép.Muốn đánh chiếm nó quân ta phải dùng bộc phá. Và người nhận nhiệm vụ đánh bộc phá là phải tiếp cận hàng rào nọ. Ai xung phong đảm nhiệm việc cảm tử này? Chỉ huy hỏi. Một , hai rồi ba cánh tay giơ lên. Từ từ chậm rải với vẻ miễn cưỡng và lưỡng lự. Chứ không phải vùn vụt như măng rừng mọc sau mưa. Như báo đài vẫn viết . Sau cùng , người thứ ba giơ tay là một anh lính tái ngũ chạc 35,36 tuổi đã có vợ con ở hậu phương. Ông khóc òa, rồi nghẹn ngào: “Tôi và hai đồng chí nhận nhiệm vụ này thì chi bộ ta không còn đảng viên nữa!” Đọc cái câu ngắn ngủi này mà tôi ứa lệ. Người lính già không nghĩ đến mình mà nghĩ đến tổ chức .

      Bốn: Chiến si ta chịu đựng gian khố, vất vả , hy sinh đành rồi. nhưng còn chịu đựng sự thiếu thốn gì nữa? Còn! Nỗi thương nhớ người yêu người vợ, nỗi thèm khát đàn bà. Một nỗi khổ tâm ám ảnh người đàn ông trẻ đằng đãng cách xa một nửa nhân loại.Trong những trang sách tôi đọc về chiến trường, có lẽ Tô Hoàng là người đầu tiên viết kỹ càng về câu chuyện nhân thế này. Đến mức có cả một bài dài có nhan đề “Sex với lính tráng Bắc Kon Tum” ở trang 117. Thèm khát đến mức ở nơi nọ trên một con dốc cheo leo bên vực sâu, bỗng nhiên có một cây cổ thụ đổ, nằm chăn ngang như ngăn lối không cho ai vượt qua.Vậy mà một ngày nọ, không hiểu một chàng lính trẻ nào đó tinh nghịch kiếm đâu ra một cái Coóc xê của chị em buộc ngang thân cây nọ, gợi hình ảnh một người phụ nữ nằm tênh hênh trên đường đi. Với kết quả là lính ta được một phen tỉnh cả người khi vất vả leo qua cái vật chướng ngại này.Thèm đến mức sau một đợt leo dốc cực nhọc rã rời, người chỉ huy bèn nẩy ra “sáng kiến”( và sau đó bị cấp trên kỷ luật) cho phép lính ta tha hồ nói chuyện trai gái tục tằn với kết quả hiệu nghiệm là giải tỏa hết cả mệt nhọc cùng là ẩn ức. Đến mức một lần 4 chiếc xe tải Zinkhơ chở gạo từ Binh trạm 47 vào cứu đói số thương binh tồn đọng ở một địa điểm gần đó. Tin đâu lan truyền lái xe là 4 chiến sĩ gái .Thế là lính ta xôn xao nhộn nhạo hết cả lên, đòi cho ra đường xem mặt chị em. Đại đội không dám quýêt định. Chuyển lên Tiểu đoàn, Tiểu đoàn bó tay. May, Chính ủy Trung đòan là người hiểu biêt tâm lý, liền cho người ra thương lượng với đoàn xe cho bốc gạo ở một khúc cua hai bên có thành ta luy cao, lính ta phải đứng trên bờ ta luy mà nhìn xuống, mà chiêm ngưỡng 4 chị em . Chưa xong, lệnh còn nói rõ, mỗi đơn vị chỉ đươc cử một phần tư quân số thay nhau ra ngắm chị em để đảm bảo sẵn sàng chiến đấu và nhấn mạnh, mỗi chiến sĩ chỉ được ngắm đúng nửa tiếng thôi.

      Về hội chứng thèm vì thiếu đàn bà mà các chiến sĩ phải chịu đựng, một lần trò chuyện với mấy nhà tri thức Việt Kiều, họ hỏi Tô Hoàng rằng, vậy trong hoàn cảnh lính tráng xa vợ con đằng đẵng như thế, các ông có tổ chức gái điếm như lính viễn chinh các nước không?Nếu không thì các ông là những người gỗ, vô cảm hoặc là những tìn đồ theo đaọ khổ hạnh. Hoặc là các ông cho đám lính trẻ của các ông uống thuốc diệt dục trước khi họ vào chiến trường.Tô Hoàng viết:” Tôi không gắng gỏi thanh mình, không muốn biện giả làm gì.Buồn quá! Buồn muốn trào nứớc mắt quá!Chẳng lẽ các đồng đội chết trẻ của tôi lại chịu oan uổng thế sao?Anh em tội gì gì mà chịu thiệt đơn thiệt kép đến như vậy?”. Tôi đọc mấy dòng viết này của nhà văn thấy nghẹn ắng trong lòng. Kiệm lời! Rất kiệm lời mà động đến sâu thắm trái tim người đọc.Đặc sắc của Bút Ký -Tản văn của Tô Hoàng là thế chăng!

*

Tôi, Tô Hoàng với Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Nghiêm Đa Văn, Nguyễn Đình Ảnh … cùng năm 1961 vào học khoa văn Đại học Sư phạm Hà Nội . Hết năm thứ hai, do nhu cầu cần có thêm nhiều giáo viên văn cấp 3, một số sinh viên lớn tuổi như tôi ra trường đi dạy, Tô Hoàng cùng các bạn ở lại học tiếp năm thứ ba, lúc này đã có thêm Vương Trí Nhàn từ Đại học Vinh chuyển ra.Tốt nghiệp sau ba năm dùi mài kinh sử, các anh nhất loạt nhập ngũ với cấp bậc binh nhì “ra đi cổ áo mang hai lá cờ”. Lúc này chuộc chiến tranh Chống Mỹ cứu nươc đang vào hổi quyết liệt. Tháng 9 năm 1973, tôi về học Trường bồi dưỡng những người viết trẻ của Hội Nhà văn. Tô Hoàng từ chiến trường Khu 5 gian khổ cũng ra học khóa này. Anh đem đến cho chúng tôi cả một kho chuyện vui buồn về chiến trường Tây Nguyên. Tháng 4 năm 1974, sau 9 tháng học, nhà trừờng cho học viên đi thực thự tế sáng tác. Đoàn đi Vĩnh Linh, có Tô Hoàng và tôi. Vĩnh Linh , chiến trường ác liệt một thời Tô Hoàng đã có mặt ở đây. Về với cảnh cũ người xưa, gặp gỡ lại bè bạn, các bà mẹ các o dân quân du kích, anh tíu tít thân tình như cá về với nước. Năm 1988, đi trong đoàn nhà văn trao đổi văn hóa với các nhà văn Liên Xô, tôi gặp lại Tô Hoàng lúc này đang là sinh viên của Trường Đại học Điện Ảnh VGIK. Mấy chục năm gần đây, tôi ở Hà Nội, Tô Hoàng ở Thành Phố Hồ Chí Minh, nhưng thường xuyên trò chuyện tâm tình với nhau qua điên thoại, về thế sự và văn chương.

Chẳng có ai tẻ nhạt trên đời.Mỗi số phận mang một phần lịch sử. (Y. A.Yevptushencô ) Huống hồ, Tô Hoàng, một cuộc đời thật sự phong phú. Đi nhiều. Đọc nhiều. Suy nghĩ nhiều. Cởi mở niềm nở mà không khách sáo hời hợt. Chân tình mà không thô mộc. Giàu năng lực khái quát tổng hòa. Tuổi tác cho thêm sự chín muồi. Vì vậy, tôi vẫn cứ hằng tin, Tô Hoàng đã viết và sẽ còn viết. Tập Bút ký - Tản văn này là một chứng nhân. Anh viết về rất nhiều đề tài .Về làng Láng quê anh. Về Hà Nội. Về những chuyện vui, chuyên buồn, chuyện lạ trong chiến tranh. Anh viết về bè bạn.Về tuổi già. Về nước Nga trong những năm biến động… Những trang văn thắm tthiết. Một cuộc sống đã trải dài qua bao năm tháng.

Anh viết với cảm hứng nào đây? Câu hỏi đặt ra với tôi khi đọc những trang viết ấy của anh là thế. Rất may, tôi đã tìm thấy câu trả lời của anh, ở trong mấy sự kiện sau:

Trang 170, bình luận về cuốn sách “Được sống và kể lai” của tác giả Trần Luân Tín viết về cuộc chiến tranh vừa qua, anh cho rằng, về một phương diện khác cuốn sách đã xử lý mối tương quan giữa cái cái Bi và cái Tráng một cách công bằng và khách quan. Sau những năm tháng học hành và sống ở Liên xô , anh viết : “Dù mình sống ở Moskva lâu đến gân 7 năm, nhưng chỉ có một nửa ký ức là niềm vui nỗi nhớ.Nửa còn lại là là những buồn đau nặng nề của những gì trải nghiệmvà ngộ ra” ( Trang 182). Nhớ lại những năm tháng trực tiếp có mặt trong cuộc chiến tranh cứu nước vĩ đại, anh viết: “Quá đủ sự ác liệt, độ gay cấn , không gian, tình huống để tạo nên bức tranh sám hối của người lính ở cả hai chiến tuyến để “hòa cả làng “, tôi và anh đều có lỗi? Cũng có thể với chất liệu ấy để chứng minh cho những toan tính ”xóa sổ”, chẳng ai được, chẳng ai thua, những thế lực phi nhân đánh ván bài chính trị bằng những núi xác của lính tráng …v.v… Những trù liệu như vậy đã thấp thoáng xuất hiện trongvăn chương nghệ thuật hai ba chục năm trở lại đây “( trang169)

Vậy là rõ rồi ! Hãy công bằng và khách quan với mình, với lịch sử. Cũng tức là hãy nhìn cuộc sống một cách trung thực, không tô hồng, không bóp méo làm siêu lệch hiện thực. Và đó có nhẽ là một nét đặc sắc riêng tư nữa trong tác phẩm này của anh!./.

Nguồn theo Trannhuong