/Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong/. Thơ Thanh Tịnh

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

Về thơ văn bạn bè

VŨ BÌNH ĐỊNH VỚI “LỤC BÁT CHO EM”

Chúc anh mau lành bệnh để về với thơ, với đời, với bầu bạn và quê hương đang dang hai tay chờ đón./.

 

VŨ BÌNH ĐỊNH VỚI “LỤC BÁT CHO EM”

Tô Ngọc Thạch

.

          Tôi có cơ duyên biết Vũ Bình Định, bởi anh trai Định là Vũ Thành Chung, bạn đồng ngũ từ thưở còn “Khoác trên mình màu áo xanh quân phục” (thơ Thi An). Số phận may rủi thế nào, Thành hoàng làng Ho ở huyện Vĩnh Bảo là Thượng Tướng Quân Đô Chỉ Huy Sứ Nguyễn Tử Mạch(1), đã che chở cho tôi và Vũ Thành Chung thoát khỏi lưỡi hái tử thần chiến tranh và sau đó được quân đội cho cả hai đi Liên Xô du học. Sau những năm tháng dài đằng đẵng ấy, vào cuối thế kỷ XX, anh em tôi lại gặp nhau trên con đường sáng tác văn học. Từ lúc đó trở đi, thì các thành viên trong nhóm “Năm dòng sông cùng chảy” mới thường xuyên tới quê của thi sĩ Vũ Thành Chung và quen biết Vũ Bình Định.

       Sinh ra và lớn lên tại mảnh đất ven kênh Hậu Long, xã Lập Lễ huyện Thủy Nguyên, nay thuộc phường Nam Triệu, nằm bên hữu ngạn con sông huyền thoại mang tên Bạch Đằng lịch sử. Vũ Bình Định là con trai út một gia đình thuần nông, có gốc gác từ làng Do Lễ cùng tổng Phục Lễ huyện Thủy Nguyên. Miền đất nơi đây còn là “cái nôi” của hát đúm, một nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng của cộng đồng cư dân ven biển Bắc Bộ. Với các ca từ mượt mà, đậm nét trữ tình lãng mạn, mà năm 2018 được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục “Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia”. Có phải ngọn lửa đam mê văn chương trong tâm hồn Vũ Bình Định, được nhen nhóm từ những câu hát đúm đặc sắc, gợi cảm ấy. Hay tâm hồn ấy, được phát sáng bởi ngọn lửa thi ca, mà anh em tôi mang tới nguồn cổ vũ lớn cho anh?

.

Chân dung nhà thơ Vũ Bình Định

          Nhớ lại, lần đầu gặp Vũ Bình Định, với thân hình cao ráo, săn chắc, tính tình sởi lởi dễ gần, nên tôi đã có thiện cảm ngay. Cuộc đời của Định gắn liền với miền đất cửa biển non trẻ nơi đây, với câu ca dao đặc trưng: Lấy chồng Lập Lễ ăn cá, ăn tôm. Lấy chồng Dưỡng Động ngồi ôm đít nồi”. Rồi lại được thừa hưởng truyền thống hiếu học của gia đình, nên sau khi tốt nghiệp cấp Ba phổ thông năm 1974, Định được chính quyền địa phương đặc cách, cho đi du học ngành kỹ thuật máy tại Cộng hòa Dân chủ Đức, sau này là Liên bang Đức. Tôi hỏi: “Sao chú không phải đi lính à”. Với giọng nói rắn rỏi, nhưng khá dịu nhẹ, Định bảo: “Nhà em lúc đó có anh Chung đang tại ngũ, còn anh thứ hai Vũ Kim Đỉnh hy sinh tại chiến trường miền Nam, nên em thuộc diện ưu tiên”. Hay, khi tiếp xúc với cô giáo Nguyễn Thị Nhận là “phu nhân” của Định, mới biết cô là cựu giáo sinh của bố tôi và được Sở Giáo dục thành phố Hải Phòng quyết định điều về Lập Lễ dạy học. Sau này, cô Nhận còn là “bà mối mát tay” cho thi sĩ Kim Chuông nên duyên chồng vợ với nàng Thúy Hường trẻ trung, xinh đẹp. Chính vì thế, mối quan hệ giữa các thành viên gia đình Vũ Bình Định với anh em tôi ngày càng trở nên gần gũi và khăng khít hơn…

      Đại thi hào Nguyễn Du từng viết trong Độc tiểu Thanh kí. Nguyên văn chữ Hán: 脂粉有神憐死後.文章無命累焚餘”. Phiên âm:“Chi phấn hữu thần, liên tử hậu. Văn chương vô mệnh, lụy phần dư”. Tạm dịch: “Son phấn có thần chôn vẫn hận. Văn chương không mệnh đốt còn vương”. Tôi không rõ Vũ Bình Định đã dám dấn thân vào “làng thơ” từ bao giờ, nhưng tới nay đã có hơn một trăm bài thơ do anh sáng tác với nhiều thể loại khác nhau. Tháng trước, bất thình lình Vũ Bình Định cùng với “Chúa đảo Vancouver, Canada” Đinh Đắc, từ quê nhà Lập Lễ tới thăm anh em tôi. Đặc biệt, Vũ Bình Định giờ đã bước chân vào tuổi “xưa nay hiếm”, mới mang theo bản thảo tập thơ Lục bát cho em, nhờ Kim Chuông viết cho lời giới thiệu. Nhân ngày thơ Việt Nam lần thứ 24 tổ chức tại Cung Thiếu nhi Hải Phòng, nhóm “Năm dòng sông cùng chảy”, nay chỉ còn ba là Kim Chuông, Hà Cừ và Tô Ngọc Thạch tranh thủ tới thăm Định đang điều trị trọng bệnh tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng. Thế rồi, cách nay mấy hôm, Kim Chuông mới gửi cho tôi bản thảo tập Lục bát cho em và nói viết cho đôi dòng.

.

Bìa tập thơ "Lục bát cho em" 

.

       Tôi rất ngại viết cho các tác giả chưa thành danh, nhưng khi đọc xong bản thảo Lục bát cho em, mới thấy Vũ Bình Định có chất của một thi sĩ. Nhiều câu thơ chất chứa cảm xúc ấn tượng, giàu thi ảnh thi liệu, được thể hiện ở các cung bậc cảm xúc khác nhau:

       Tôi như hạt nắng cuối trời

       Đậu vào chiều muộn dệt lời hoàng hôn

       Hay:                                                       

       Thẳm sâu trong tiếng đò ơi

       Ấm trong nắng mới vợi vời hồn quê

       Cả đời lạc giữa bến mê

       Lần theo câu hát tìm về ngày xanh

                        (Nghe em hát đúm)

       Vũ Bình Định đang chập chững bước vào “làng thơ”, nhưng trong anh có năng khiếu bẩm sinh về thơ ca. Cũng là những câu thơ ấy, nhưng ở anh nó mang một nét riêng rất Vũ Bình Định, không thể trộn lẫn với các tác giả khác:

       “Con cò bay dọc tháng Ba”

       Chở trăng Phố Biển bay qua làng Chài

       Tôi ngồi đan lưới vớt lời

       Đem hương cau thả lên trời tặng anh

                                   (Quà quê)

          Hay khi qua ngã ba Đồng Lộc ở Hà Tĩnh, một di tích lịch sử gắn liền với mười nữ thanh niên xung phong, đã anh dũng hi sinh trong trận oanh kích của không quân Hoa Kì vào ngày 24 tháng 7 năm 1968. Cảm xúc từ đáy lòng anh bất ngờ bật ra câu thơ đầy ngẫu hứng. Ngước nhìn quang cảnh khu tưởng niệm này, tác giả thấy nỗi đau chiến tranh không sắc màu, mà ngồn ngộn như khối lập thể đè trĩu tâm can. Đây còn là lời thỉnh cầu với điệp từ “không” chiến tranh từ chính người viết:  

       Ngã Ba… Tôi đứng cúi đầu

       Chiến tranh: “Đừng có”… Tôi cầu:

       - Không!

       - Không! …

            (Ngã ba Đồng Lộc)

       Lúc tới thăm Nghĩa trang Trường Sơn, trong đó có mộ anh trai mình. Bao cảm xúc được dồn căng từ trước và giờ đây ngôn ngữ bùng nổ, nhưng thật tinh tường, độc đáo:

       Ngút ngàn mộ chí Trường Sơn

       Ngút ngàn nhớ. Ngút ngàn thương … Ngút ngàn

                             (Nghĩa trang Trường Sơn)

          Hay những lúc rảnh rang, ra với triền sông huyền thoại mang tên Bạch Đằng lịch sử ở quê mình, thì bao sóng lòng lại dội về. Với chất thơ dung dị, chất phác đằm sâu, nhưng ló rạng một vùng kí ức thiêng liêng về miền cửa biển nơi đây, đã từng ba lần chiến thắng giặc phương bắc:

          Cọc Bạch Đằng cắm dưới lòng sâu

          Hào khí Đông A chủ quyền lãnh thổ

                               (Bên bờ Bạch Đằng)

       Hay khi ra bến Chang bên con sông Cầu gần nơi anh sinh sống, thì bao kỷ niệm xưa lại ùa về. Biên độ vùng kí ức thiêng liêng ấy được mở thêm, làm cho thơ cất cánh. Bao suy tư giãi bày, được khai khẩn trên cánh đồng ngang dọc sáu tám:

       Tôi tìm về bến sông xưa

       Tìm nơi mẹ thả bùa mê xuống dòng

       Cha tôi tải khách qua sông

       Vớt lên trong vắt tơ lòng tình duyên

       Theo cha mẹ thả con thuyền

       Thả câu hát đúm xuống triền sông sâu 

                      (Bến Chang)

       Lúc ra chợ quê hương mình, thì bao hoài niệm thân thương đã găm vào tâm hồn tác giả. Thi liệu ở đây đơn giản, nhạc tính uyển chuyển, màu thơ rặm ruội, được cá thể hóa trong thơ khá rõ nét:

       Chợ quê nhuộm tím hồn tôi

       Bánh đa, bánh đúc chào mời rổn rang

       “Í .. a” … Vẫn giọng Phả làng

       Tôi tìm lại được Bến Chang… xưa rồi

                                        (Bến Chang)

       Đời người ai chả gặp vui buồn, lúc thế này, lúc thế khác. Khi đọc bài Bán chức, tôi cảm thấy “nỗi buồn man mác” của tác giả lan tỏa sang tâm hồn độc giả, như có sợi dây giao cảm vô hình nào đó kết nối với nhau:

       Xôn xao mua chức bán quyền

       Tôi ra bán chức  "tá điền” của tôi.

                          (Bán chức)

          Khi đọc Chế Lan Viên, Vũ Bình Định tạo ra bước đột khởi bởi cái cảm cái nghĩ hoàn toàn khác lạ. Với lối ẩn dụ so sánh khá sâu sắc, ngôn từ được ngân vang một cách hồn nhiên, âm hưởng buồn đau thấm đẫm bao phủ cả bài thơ, nhưng thật khéo léo và tinh tế:

       Hai tay ôm lấy “Điêu tàn”

       Chế Lan…Ôi, Chế Lan Viên…NGƯỜI… !

       Hay:

       Tôi yêu thơ giống thân cò

       Bay lên chạm nắng xuống mò ruộng sâu

       Hay:

       Nửa đời khát gặp giọt mưa

       Mầm thơ dù muộn vẫn thừa thời gian   

                              (Gặp Chế Lan Viên)

       Hay lúc tới núi Phượng Hoàng ở Chí Linh, thì hình ảnh một Nhà giáo mẫu mực của mọi thời đại hiện ra trước mặt. Nỗi buồn “Thất trảm sớ” chưa được thực thi, Thầy phải về ở ẩn tại chốn này. Những xúc động nội tâm trong anh lại bật ra thơ:

       Bình minh ủ giữa đêm dầy

       Lòng trời chưa thuận, thương Thầy cô đơn

                                             (Thầy Chu Văn An)

          Hay khi ra Cát Bà, thì bao tiên cảnh “non nước hữu tình” của miền Di sản thiên nhiên thế giới này, đã tạo ra những gam màu ấn tượng, mà người thơ không thể bỏ qua:

       Cát Tiên bãi tắm như tranh

       Ầm ào, ngằn ngặt sóng xanh vui đùa

                   (Vịnh Cát Bà)

       Bằng phương pháp ẩn dụ, với góc nhìn tinh tế, Vũ Bình Định đã khéo léo sử dụng từ vựng để hoán vị ngôn từ từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động, làm sáng lên những kí ức tươi non, tạo ra một gam màu riêng:

       Anh đan lưới dệt lời

       Bản tình ca của biển

       Những nốt trầm xao xuyến

       Biển. Và Anh. Và Em…

                     (Tình biển)

       Giống như thế hệ chúng tôi, Vũ Bình Định đã từng được trải nghiệm qua thời kỳ chiến tranh. Bao kí ức về cuộc chiến còn khắc sâu trên con đường thời gian, đặc biệt tuổi thơ anh gắn với công cuộc mưu sinh đầy nước mắt: 

       Tuổi thơ tôi chát chúa tiếng bom

       Đọc và viết bên ánh đèn hạt đỗ

       Quần áo đủ sắc màu châu thổ

       Liên Xô – Trung Quốc – Cu Ba

                (Kỷ niệm tuổi thơ)

          Với hơn sáu chục bài thơ trong Lục bát cho em, mà Vũ Bình Định đã lựa chọn, như hơn sáu chục gam màu trong bức tranh làng quê sống động ở vùng cửa biển Bạch Đằng quê anh. Các gam màu ấy được hòa quyện tinh tế, tạo nên một vẻ đẹp bình yên, tràn đầy sức sống. Trong đó, còn có một số gam màu chưa thực sự sắc nét, nổi trội. Dẫu sao, xin chúc mừng Vũ Bình Định với đứa con tinh thần đầu đời của mình. Chúc anh mau lành bệnh để về với thơ, với đời, với bầu bạn và quê hương đang dang hai tay chờ đón./.

__________

(1): Thành hoàng làng Ho xã Vĩnh Hòa thành phố Hải Phòng là Thượng Tướng Quân Đô Chỉ Huy Sứ Nguyễn Tử Mạch đã che chở cho thanh niên làng này, không một ai hi sinh tại chiến trường trong 4 cuộc kháng chiến (Pháp, Mỹ, Tàu và Polpot)

.

T.N.T