VIDEO
Tin nóng
QUẢNG CÁO
LỊCH
LIÊN KẾT
TIN TỨC
TÔ HOÀNG: ĐƯỜNG XA, GÁNH NẶNG VÀ NHỮNG NỖI BUỒN LÂU QUÊN
Ông sinh ra trên mảnh đất văn vật hiếu học làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên...TÔ HOÀNG: ĐƯỜNG XA, GÁNH NẶNG VÀ NHỮNG NỖI BUỒN LÂU QUÊN
Lê Ngọc Tú
.

.
Ông sinh ra trên mảnh đất văn vật hiếu học làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, nhưng tuổi thơ lại gắn với những bãi chiếu phim bập bùng trong khói lửa kháng chiến chống Pháp. Ở cái tuổi mà những cậu bé khác còn mải mê với những trò chơi đánh trận giả, Tô Hoàng đã được cha cõng trên vai, vượt mấy cây số đường rừng để xem những thước phim chiếu bóng đầu tiên. "Bố tôi thường chuẩn bị những bó đuốc thật dài, để tan phim, soi đường rừng mà về", ông nhớ lại. Những hình ảnh đầu tiên về nước Nga xa xôi qua phim "Matơroxốp lấy thân mình lấp lỗ châu mai", về Trung Quốc qua "Bạch mao nữ"... đã in sâu vào tâm trí non nớt như một thứ ánh sáng huyền ảo giữa bóng tối của chiến tranh.
Hà Nội năm 1954, cậu học sinh Tô Hoàng tiếp tục nuôi dưỡng tình yêu ấy với các tuần lễ phim Liên Xô, phim Ba Lan, phim Đức. Những đồng tiền lẻ cha cho để mua quà vặt được ông dồn lại để mua vé vào rạp. Có những bộ phim hay, ông thậm chí còn mạo hiểm làm "sổ liên lạc giả" nhờ cha ký xác nhận nghỉ ốm để được ở nhà xem phim. Điều kỳ lạ là người cha ấy đã ký, như một sự thấu hiểu và nâng niu một tâm hồn đang rung động trước nghệ thuật. Chính từ những bó đuốc soi đường, từ những tờ giấy xin phép nghỉ học ấy, một số phận gắn chặt với văn chương và điện ảnh đã được định mệnh ươm mầm.
Năm 1958, sau khi xem bộ phim Việt Nam "Vườn cam", cậu học sinh Tô Hoàng viết một bài báo ngắn chừng trăm chữ gửi cho một tạp chí điện ảnh và nó được đăng tải. "Ấy thế mà tôi cứ ngồi hàng giờ bồi hồi, sung sướng đọc những gì chính mình viết ra". Đó là niềm vui đầu tiên của một cây bút, một tín hiệu báo hiệu một hành trình dài phía trước, nơi chữ nghĩa và hình ảnh sẽ song hành cùng cuộc đời ông.
Lính và những ấn tượng không phai
Năm 1964, chàng sinh viên tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội khoác áo lính, trở thành sĩ quan pháo binh. Tốt nghiệp sư phạm nhưng không đứng trên bục giảng, ông bước vào trận địa pháo ở chiến trường Bắc Quảng Trị khốc liệt, rồi chuyển vào Tây Nguyên đầy máu lửa. Chiến tranh hiện ra không chỉ là những trận đánh, những chiến công, mà còn là những ám ảnh không nguôi về đồng đội.
Tô Hoàng kể về những người lính ở tổ "thọc sâu", trước mỗi trận đánh, họ lấy sắt ống bơ đục khắc tên mình giấu trong người, phòng khi hy sinh còn có manh mối để đồng đội nhận diện. Những cái tên vô danh được khắc lên mảnh kim loại nhỏ nhoi ấy trở thành những chứng tích thiêng liêng nhất của một thời máu lửa.
Ông viết về những đêm hành quân qua Cự Nẫm, bên bờ sông Gianh, nơi nổi tiếng với chiếc nón Ba Đồn. Những người lính trẻ, không hẹn mà gặp, ai cũng mua vội một chiếc nón gửi về cho người yêu nơi hậu phương. "Trong 11 thằng lính Hà Nội tiểu đội tôi mua nón Ba Đồn gửi về cho người yêu qua phà Ròn đêm ấy đã nằm lại trên chiến trường mất 8 thằng". Một câu văn viết về sự mất mát mà lặng người như tiếng thở dài.
Chiến tranh trong văn Tô Hoàng không chỉ có hào khí, có sự hy sinh cao cả, mà còn có cả những góc khuất rất người. Ông là một trong những cây bút đầu tiên dám viết một cách thẳng thắn và nhân văn về nhu cầu sinh lý của người lính, về "Sex với lính tráng Bắc Kon Tum". Không hề dung tục, ông kể về cái thèm khát đàn bà như một nỗi khổ tâm canh cánh, một sự thiếu thốn không thể bù đắp của những người đàn ông trẻ xa nhà. Câu chuyện về bốn cô lái xe tải chở gạo vào cứu đói thương binh, và quân lính được sắp xếp lên thành lũy cao để "chiêm ngưỡng" mỗi người nửa tiếng, vừa bi hài vừa thấm đẫm nỗi xót xa. Khi những người Việt kiều hỏi ông về việc có tổ chức "gái điếm" cho lính như quân đội viễn chinh hay không, Tô Hoàng viết trong sự nghẹn ngào: "Chẳng lẽ các đồng đội chết trẻ của tôi lại chịu oan uổng thế sao? Anh em tội gì mà chịu thiệt đơn thiệt kép đến như vậy?".
Những dòng viết ấy là tiếng lòng của một người lính đã đi qua chiến tranh, thấu hiểu và trân trọng từng hơi thở, từng góc khuất của đồng đội. Nó không làm giảm đi sự vĩ đại của họ, mà ngược lại, tô đậm thêm phần nhân bản, khiến họ trở nên gần gũi và đáng kính hơn.
Hành trình phía bên kia ống kính
Sau năm 1975, Tô Hoàng có cơ hội trở thành người của tạp chí Văn nghệ Quân đội nhưng không thành. Ông về công tác tại Xưởng phim Quân đội nhân dân. Và rồi, một bước ngoặt lớn đến với ông: trúng tuyển đi học đạo diễn phim tài liệu tại trường Đại học Quốc gia Điện ảnh Liên Xô (VGIK) danh tiếng. Từ 1980 đến 1986, ông sống và học tập tại Moskva, mang theo trong mình những trải nghiệm chiến trường và một tình yêu lớn với nền văn hóa Nga.
Những năm tháng ở VGIK không chỉ trang bị cho ông kỹ thuật làm phim bài bản mà còn mở ra trước mắt ông một chân trời tri thức mênh mông về văn học nghệ thuật Nga và thế giới. Ông như một người đi mót, đi nhặt những hạt ngọc quý từ kho tàng văn hóa ấy để chuyển tải về cho bạn đọc Việt Nam. Sau này, những bài viết, những bản dịch của ông về các đại thụ văn chương Nga như Leonid Leonov, về những câu chuyện hậu trường của "Bác sĩ Zhivago", về số phận của Brodsky, Solzhenitsyn... đã trở thành món ăn tinh thần đặc sắc, thể hiện một vốn hiểu biết sâu rộng và một tấm lòng trân quý đặc biệt. Ông đã tập hợp những công trình dịch thuật và giới thiệu văn học nước ngoài của mình trong cuốn sách "Chuyện kể phía sau những trang viết" do NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 2018.
Tốt nghiệp về nước, Tô Hoàng chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống, vừa làm báo, vừa làm phim, vừa giảng dạy. Ông viết phê bình phim cho báo Lao Động, Phụ Nữ TP. Hồ Chí Minh, và nhiều tờ báo khác. Đặc biệt, từ khi vào Nam, ông đảm nhiệm công tác giảng dạy hai môn Lý luận phê bình Điện ảnh và Đạo diễn phim Phóng sự - Tài liệu tại Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh TP. Hồ Chí Minh. Nhiều thế hệ đạo diễn, quay phim, diễn viên có tên tuổi ở phía Nam là học trò của ông. Bên cạnh công tác đào tạo, ông còn làm hơn chục bộ phim tài liệu, để lại dấu ấn với những tác phẩm giàu giá trị nhân văn và lịch sử như "Đất trăn trở, đất sinh sôi", "Chị Năm Hồng", "Chuyện còn chưa kể về Rừng Sác"... Đỉnh cao trong sự nghiệp điện ảnh của ông là bộ phim tài liệu 3 tập "Hồ Chí Minh - cội nguồn cảm hứng sáng tạo", tác phẩm đã giành giải Bông sen vàng tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 17. Bộ phim không chỉ là những thước phim tư liệu lịch sử, mà còn là một hành trình đi tìm nguồn cội của sáng tạo, của vẻ đẹp tâm hồn dân tộc được hun đúc từ tấm gương vĩ đại.
Là một nhà phê bình, Tô Hoàng có một quan điểm rất riêng và cũng rất Tô Hoàng: "Phim hay sẽ viết bài khen, còn phim dở thì... im lặng không viết gì". Sự "thỏa hiệp" này, theo ông, xuất phát từ sự thấu hiểu những khó khăn, vất vả và cả những đồng vốn mà người làm phim đã bỏ ra. Nhưng không vì thế mà ông dễ dãi. Với những bộ phim có tìm tòi, có sự nỗ lực, ông sẵn sàng "cố sử dụng cặp mắt tinh để nhận ra, để trân trọng, để bình giá", góp phần nâng cao thụ cảm thẩm mỹ cho công chúng.
Văn chương: "Ngửa mặt kêu trời" và "Nỗi buồn lâu quên"
Năm 1992, tiểu thuyết "Ngửa mặt kêu trời" của Tô Hoàng ra đời trong bối cảnh đất nước đang bước vào công cuộc Đổi mới. Ngay từ cái tên, tác phẩm đã gây ấn tượng mạnh. Đó là tiếng kêu vọng lên từ những bế tắc, những khủng hoảng niềm tin, những giá trị bị đảo lộn trong guồng quay mới của xã hội hậu chiến. Có thể nói, "Ngửa mặt kêu trời" là một trong những tiểu thuyết đầu tiên dự báo sớm và chính xác những "chông chênh" của con người Việt Nam trên con đường hội nhập, nơi vật chất có thể cám dỗ và những giá trị đạo đức có thể bị xói mòn. Nhà phê bình Lê Thiếu Nhơn từng nhận xét: "Trong dòng chảy tiểu thuyết Việt Nam, 'Ngửa mặt kêu trời' là tác phẩm có cái tên ấn tượng nhất, hoàn toàn có khả năng kích hoạt suy tưởng của độc giả". Chỉ riêng tác phẩm này thôi, Tô Hoàng đã có một vị trí xứng đáng trong văn đàn.
Nhưng hành trình sáng tạo của ông còn bền bỉ hơn thế. Năm 2014, ở tuổi ngoài 70, ông cho ra mắt tập ký và tản văn "Nỗi buồn lâu quên". Cái tên sách không gợi sự bi lụy, mà là một nỗi buồn trong trẻo, thao thức của một người từng trải. Trong cuốn sách ấy, Tô Hoàng vẽ chân dung bạn bè đồng nghiệp bằng tất cả sự chân thành và trân quý. Hình ảnh nhà thơ Phạm Tiến Duật không chịu thăng cấp bậc binh nhì lên binh nhất để giữ nguyên vẹn "người làm thơ ấy đang trai, ra đi cổ áo mang hai lá cờ" hiện lên thật đặc biệt qua ngòi bút của ông. Đó không chỉ là một chi tiết, mà là cả một thế giới tính cách, một quan niệm sống được gợi mở.
Tô Hoàng viết về Nghiêm Đa Văn, Đỗ Chu, Hữu Thỉnh, Nguyễn Khắc Phục... bằng một giọng văn nhẹ nhàng, hóm hỉnh, pha chút bình luận mà thấm đẫm tình người. Ông như một người thợ săn chi tiết tài tình, nhặt nhạnh những mảnh ghép nhỏ nhất để tạo nên một bức chân dung hoàn chỉnh và sống động. "Những chi tiết quý giá mà Tô Hoàng dành dụm được trong 'Nỗi buồn lâu quên', chắc chắn sau này sẽ có ích cho những nhà nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam", Lê Thiếu Nhơn khẳng định.
Bên cạnh sáng tác, Tô Hoàng còn là một dịch giả có duyên. Những bản dịch của ông như "Người thứ 10" (Graham Greene), "Ông hoàng Hollywood" (F. Scott Fitzgerald), "Bóng tối thiên đường" (Erich Maria Remarque) đều được lựa chọn kỹ lưỡng. Nhưng có lẽ, tâm huyết nhất vẫn là những bài viết, những bài dịch về văn học Nga - Xô viết, nơi ông được thỏa sức khám phá và chuyển tải những vẻ đẹp, những nỗi buồn, những phận người trong nền văn học lớn ấy.
Một nhân cách dấn thân và trách nhiệm
Ở cái tuổi "xưa nay hiếm", Tô Hoàng vẫn miệt mài với công việc viết lách mỗi ngày. Ông có một trang facebook cá nhân với nhiều bài viết thu hút sự quan tâm của bạn đọc. Không chỉ là những hồi ức, những chuyện văn chương, ông còn rất quan tâm đến thời cuộc, đến những sự kiện văn hóa, xã hội nổi bật. Hầu như không có một sự kiện văn chương, điện ảnh lớn nào của đất nước mà ông không tham gia góp ý, bày tỏ quan điểm. Từ những tranh luận về tiểu thuyết "Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh, về tác phẩm "Mưa đỏ" của Chu Lai, "Thuyền" của Nguyễn Đức Tùng, cho đến phim "Quán Kỳ Nam", ông đều có những ý kiến xác đáng, chân thành và đầy sức thuyết phục.
Nhà văn Ma Văn Kháng, người bạn cùng lớp đại học và cùng khóa bồi dưỡng viết văn năm 1973, đã dành cho Tô Hoàng những lời trìu mến: "Tuổi tác cho thêm sự chín muồi. Vì vậy, tôi vẫn cứ hằng tin, Tô Hoàng đã viết và sẽ còn viết... Anh viết với cảm hứng nào đây? Hãy công bằng và khách quan với mình, với lịch sử. Cũng tức là hãy nhìn cuộc sống một cách trung thực, không tô hồng, không bóp méo làm siêu lệch hiện thực". Đó chính là cốt lõi nhân cách của Tô Hoàng: một người trí thức luôn trăn trở, luôn đau đáu với những giá trị cốt lõi, với sự trung thực của nghệ thuật và của lịch sử.
Nhà văn Chu Nguyễn, trong bài viết dịp cuối năm 2025, đã kể về cuộc gặp gỡ đầu tiên với Tô Hoàng ở trại sáng tác Đà Lạt, khi ông đã "gần tám chục sọi" nhưng vẫn nhanh nhẹn, hoạt bát. Sự trò chuyện tâm giao giữa hai người đã kéo dài suốt 5 năm, với những cuộc điện thoại từ TP.Hồ Chí Minh ra Hà Nội, chỉ để bàn chuyện văn chương, chuyện đời. Với Chu Nguyễn, Tô Hoàng là "người đàn anh đáng kính", một tấm gương về sự lao động nghệ thuật bền bỉ và một trái tim luôn rộng mở.
Tô Hoàng, với hơn nửa thế kỷ cầm bút, chưa bao giờ tự nhận mình là "phu chữ". Ông nhớ mãi lời dạy của nhà văn Nguyễn Tuân năm xưa: "Đọc sách khác đọc chữ và viết văn khác viết chữ... Còn đọc để hiểu một trang văn, viết ra nổi một dòng văn - đó lại là chuyện 'cá vượt vũ môn'". Và Tô Hoàng vẫn đang trên hành trình vượt vũ môn ấy, với một "đường xa gánh nặng" như tên một tập sách của ông. Gánh nặng ấy là trách nhiệm của một người lính với đồng đội, của một nghệ sĩ với cái đẹp, của một nhà văn với sự thật, và của một trí thức với những trăn trở về thế sự.
Cuộc đời và sự nghiệp của Tô Hoàng là một bức chân dung đa diện: người lính, nhà báo, đạo diễn, nhà phê bình, dịch giả, và là một người thầy đáng kính. Nhưng trên hết, ông là một con người giàu lòng trắc ẩn, một tâm hồn luôn khắc khoải với những "nỗi buồn lâu quên". Những nỗi buồn về đồng đội đã ngã xuống, về những giá trị bị mai một, về sự thật bị bóp méo, và cả những nỗi buồn trong veo về vẻ đẹp của tình người, của văn chương nghệ thuật. Tất cả đã tạo nên một Tô Hoàng -- một trí thức dấn thân trọn vẹn trên con đường mình đã chọn, xứng đáng với tình yêu mến của đồng nghiệp, bạn đọc và các thế hệ học trò.
L.N.T
Các tin khác
-
Giải thưởng văn học hằng năm còn để nhìn lại những vấn đề của đời sống văn học
-
Hội Nhà văn Hải Phòng đẩy mạnh sáng tác, quảng bá tác phẩm
-
Ngày thơ Việt Nam năm nay không thả thơ lên trời nữa
-
CHÚC MỪNG NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026
-
KHI NHỮNG KẺ HẾT THỜI MUỐN LÀM QUAN TÒA VĂN HỌC
-
PAUL NGUYỄN HOÀNG ĐỨC: GÃ MỘNG DU TRONG VŨNG BÙN HOANG TƯỞNG
-
3 tác phẩm được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2025
-
Vinh danh 9 tác giả nước ngoài tại cuộc thi 'Thơ ca và nguồn cội'
-
Văn chương trên quê hương Trạng Trình
-
TIN BUỒN: TIẾN SỸ LUẬT, NHÀ THƠ, NGHỆ SỸ NHIẾP ẢNH VŨ THÀNH CHUNG TỪ TRẦN

