VIDEO
Tin nóng
QUẢNG CÁO
LỊCH
LIÊN KẾT
TIN TỨC
SUY NGHĨ VỀ BÀI SẤM CỦA THIỀN SƯ VẠN HẠNH
Khi đó, khu mộ các vua Mạc và mộ cụ Trạng sẽ là chốn tâm linh trang trọng của dân tộc.SUY NGHĨ VỀ BÀI SẤM CỦA THIỀN SƯ VẠN HẠNH
Nhà giáo Vũ Hoàng
Thiền sư Vạn Hạnh (萬行, 938–1018) là một tăng sĩ Phật giáo thời Đại Cồ Việt, người châu Cổ Pháp - nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Ông là một trong những vị tăng sĩ làm cố vấn cho vua Lê Đại Hành, đồng thời là thầy của Lý Công Uẩn. Theo truyền thuyết dân gian và sách Việt Điện U Linh Tập, chính ngài đã góp phần hướng dẫn Lý Công Uẩn lên ngôi, thay đổi triều đại Tiền Lê một cách hòa bình, mở ra một triều đại tiến bộ giúp cho xã hội hưng thịnh. Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư chép: Năm 1009, sét đánh vào cây gạo ở chùa Minh Châu, làng Cổ Pháp do Thiền sư La Quý An trồng năm 936. Trong thân cây xuất hiện tấm thẻ đồng, trên đó khắc bài thơ: 樹根杳杳 木表青青 禾刀木落 十八子成 震宮見日 兑宮隠星 六七年間 天下太平 Phiên âm: Thụ căn yểu yểu Mộc biểu thanh thanh Hòa đao mộc lạc Thập bát tử thành Chấn cung kiến nhật Đoài cung ẩn tinh Lục thất niên gian Thiên hạ thái bình Dịch nghĩa đen: Gốc rễ đã yếu Ngọn cây vẫn xanh Dao chặt cây rụng Mười tám hạt thành Cành đâm xuống đất Cây khác lại sinh Đông mặt trời mọc Tây sao náu mình Khoảng sáu, bảy năm Thiên hạ thái bình Xem xong không ai hiểu. Mọi người đem bài thơ đến nhờ Thiền sư Vạn Hạnh dịch giúp. Ngài chỉ dịch bốn câu đầu và nói: “Đây là ý trời, nhà Lê đổ, nhà Lý lên thay là điềm lành cho xã tắc.” Lúc đó thời Lê Ngọa Triều tàn bạo đang bị lòng dân oán thán, ai cũng mong có một vị minh quân dẫn dắt. Người đời sau cho rằng đây là bài sấm của Thiền sư Vạn Hạnh. Việc "sét đánh cây gạo" có thể là cách ngài ngầm giúp Lý Công Uẩn lên ngôi được thuận lợi, chiếm được lòng dân bởi hai chữ “ý trời”. Ngay cả việc dời đô ra Thăng Long cũng được cho là có sự chỉ dẫn của ngài. Có người còn cho rằng nội dung “Chiếu dời đô” cũng do ngài soạn giúp vua Lý Công Uẩn, bởi số chữ Hán trong bài chiếu là 214 chữ, trùng khớp với số năm tồn tại của nhà Lý trong lịch sử - một sự linh ứng kỳ lạ. Bài sấm có nhiều bản dịch khác nhau. Nay xin mạo muội trình bày theo ý hiểu của người viết, đúng sai xin tùy người nghe. I. ẨN Ý CỦA BÀI SẤM 1. Thụ căn yểu yểu "Thụ căn" ám chỉ lê dân. Theo quan niệm "dân vi bản", dân là gốc của nước. Gốc đã "yểu yểu" tức là dân đã khổ đến cùng cực. 2. Mộc biểu thanh thanh
"Mộc biểu" ám chỉ quan lại triều chính. Ngọn cây vẫn xanh trong khi gốc đã yếu, ám chỉ cảnh "dân càng nghèo, quan càng giàu", báo hiệu sự mục nát của xã hội và sự thay đổi triều chính. 3. Hòa đao mộc lạc Ba chữ 禾 Hòa, 刂 Đao, 木 Mộc ghép thành chữ 黎 Lê. "Lạc" là rơi rụng. Ý nói nhà Tiền Lê của Lê Hoàn sẽ suy tàn. Nhà Tiền Lê tồn tại từ 980-1009, được 29 năm. 4. Thập bát tử thành Ba chữ 十 Thập, 八 Bát, 子 Tử ghép thành chữ 李 Lý. Ý nói nhà Tiền Lê tàn, nhà Lý lên thay. Nhà Lý tồn tại từ 1010-1224, được 214 năm. 5. Chấn cung kiến nhật "Chấn" là phương Đông, "kiến nhật" là thấy mặt trời. Ám chỉ nhà Mạc ở Cổ Trai, Hải Phòng - phía Đông Thăng Long - thay thế nhà Lê Sơ. Nhà Mạc ở Thăng Long từ 1527-1593, được 66 năm. 6. Đoài cung ẩn tinh "Đoài" là phương Tây. Ám chỉ vua Lê Trang Tông phải "ẩn tinh" - lánh sang Ai Lao, rồi về Thanh Hóa, (Thanh Hóa sau còn gọi là "Tây Đô") để tổ chức kháng chiến chống nhà Mạc. 7. Lục thất niên gian - Thiên hạ thái bình "Lục thất" là 67 năm. Tính từ 1527 nhà Mạc lên ngôi, đến năm 1593 nhà Mạc đại bại, đến năm 1594 thì Trịnh Tùng mới dẹp yên tàn quân nhà Mạc ở vùng ven biển. Tính từ năm 1527 đến năm 1594 đúng 67 năm. Sau 67 năm, nhà Lê Trung Hưng mới thực sự ổn định. II. PHẠM VI CỦA BÀI SẤM Bài sấm kéo dài từ năm 980 đến 1788, gần 808 năm, và được cho là ứng với 6 triều đại: Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê Sơ, Mạc, Hậu Lê Trung Hưng. Đáng chú ý, bài sấm không nhắc đến nhà Hồ. Có thể vì nhà Hồ chỉ tồn tại 7 năm, ít được sử sách chính thống đánh giá cao. Về nhà Mạc, các sử gia Lê - Trịnh sau này thường dùng lời lẽ của "kẻ thắng cuộc" ra sức phê phán, khinh mạn. Trong khi đó, bài sấm lại viết "Chấn cung kiến nhật" - coi nhà Mạc như "mặt trời phương Đông". Còn nhà Lê Trung hưng như "Đoài cung ẩn tinh" giống ngôi sao trong đám mây mù. Sự thật trong 255 năm kháng chiến và giành lại chính quyền trong đó có 195 năm lấy lại thực quyền, vua Lê chưa bao giờ nắm quyền bính, chỉ là bù nhìn bên cạnh chúa Trịnh. Vị vua cuối cùng là Lê Chiêu Thống sau khi cầu cứu Tôn Sỹ Nghị nhà Thanh thất bại, đã bỏ chạy sang Trung Quốc và bỏ xác ở đó. Điều này khiến chúng ta phải suy nghĩ về tính khách quan trong cách viết sử. III. LIÊN HỆ VỚI CỤ TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM VÀ NHÀ MẠC
Nếu ai tin vào bài sấm trên, sẽ thấy mọi việc trên đời đều diễn ra theo một quy trình có sẵn do một đấng nào đó trên cao sắp đặt, quy trình đó chính là THIÊN CƠ, chỉ có những người đặc biệt mới biết được THIÊN CƠ như thiền sư Vạn Hạnh, như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và một số vĩ nhân khác. Đến đây chúng ta mới hiểu vì sao 45 tuổi cụ Trạng mới tham gia ứng thí và đỗ Trạng nguyên ngay, Cụ biết nhà Lê sơ sắp suy vong, chờ nhà Mạc thay thế Thời Mạc Đăng Doanh là thời thịnh trị nhất trong các triều đại phong kiến, các sử gia nhà Lê sau này cũng phải công nhận. Nếu như Mạc Đăng Doanh không bị ốm chết vào năm 1540, chắc hẳn nhà Mạc còn làm được nhiều kỳ tích hơn cho lịch sử vì có vua hiền Mạc Đăng Doanh, có bề tôi giỏi là cụ Trạng. Nhưng lịch sử không có chữ nếu, năm 1539, Nhà Minh dựa vào thư cầu viện của tàn binh nhà Lê Trịnh trong Thanh Hóa, tập trung 22 vạn quân ở biên giới phía Bắc, chuẩn bị sang xâm lược Đại Việt với chiêu bài phò Lê diệt Mạc. Nước Đại Việt ta nguy cơ rơi vào tay nhà Minh, vì nhà Mạc lúc này không thể chống nổi nguy cơ từ hai phía, phía Bắc là quân nhà Minh rất hùng mạnh, phía Nam là quân Lê Trịnh khá hung hãn. Một khi quân Minh tràn sang, không những nhà Mạc mà cả nhà Lê Trịnh trong Thanh Hóa cũng không thể tồn tại, công lao 10 năm kháng chiến của Lê Lợi cũng tan thành mây khói.
15-1 Canh Tý, vua Mạc Đăng Doanh băng hà. Mạc Thái tổ lúc này đang nghỉ hưu buộc phải tham gia, một mặt lập cháu nội là Mạc Phúc Hải còn nhỏ tuổi lên ngôi, một mặt thay mặt nhà Mạc đem vài chục tùy tùng sang bên kia biên giới, nơi đóng của quân Minh cầu hòa, kèm theo địa đồ của mấy châu huyện do mấy đời trước chiếm được, nay trao trả lại vào ngày 3-11 Canh Tý (1540). Biết đây là một việc làm nhục nhã có tầm lịch sử, nhưng không thể không làm, thà bản thân chịu mang nỗi nhục để tránh cho dân tộc thoát khỏi nạn xâm lăng, chỉ có bậc quân vương đặt giang sơn, bách tính lên trên hết thảy mới làm được. Vì sự vụ này, năm sau (1541), ngày 22-8 âm lịch Thái thượng hoàng Mạc Thái tổ lâm bệnh mà mất ở tuổi 59 còn rất trẻ. Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh, hai cây cột chống trời của nhà Mạc bị gãy, vua Mạc Phúc Hải còn nhỏ, triều đình bắt đầu rối loạn. năm 1543 cụ Trạng dâng sớ xin chém 18 loạn thần, vua không nghe nên lấy cớ xin từ quan về quê Vĩnh Lại nghỉ hưu , cụ biết nhà Mạc sớm muộn cũng tàn, không thể cứu vãn được, vì đó là mệnh trời. Tuy nghỉ hưu nhưng trong lòng cụ vẫn giữ lòng trung trinh với vua Mạc, phàm những việc có lợi cho dân, cho giang sơn đất nước, cho họ Mạc, cụ vẫn gắng làm. Trước khi mất, cụ đã làm hai việc lớn: 1-Năm 1578 cụ đã khuyên vua Mạc Mậu Hợp nên chuẩn bị căn cứ cho kháng chiến lâu dài tại Cao Bằng, vua sai Mạc Kính Điển, Kính Điển sai con thứ là Mạc Kính Cung đem 5000 quân lên Cao Bằng xây đắp thành trì, chuẩn bị lực lượng, tích trữ lương thảo 15 năm, đến năm 1593 nghe tin vua Mạc Mậu Hợp, thái tử Mạc Toàn cùng anh cả là Mạc Kính Chỉ, và các anh em khác ở Thăng Long bị quân Lê Trịnh sát hại. Mạc Kính Cung bèn lên ngôi kế vị xưng hiệu Càn Thống (1593), nhờ đó nhà Mạc còn kéo dài thêm 84 năm
2- Cũng vào những năm đó, Cụ xin mật chỉ di dời long cốt của 4 vị vua Mạc rời khỏi tông miếu (Cổ Trai) để tránh việc sau này quân Lê - Trịnh khai quật trả thù. Long cốt ba vua đời đầu là vua Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh, Mạc Phúc Hải được cụ bí mật đưa về quê vợ cả của cụ là thôn Hạ Đồng, xã Cộng Hiền huyện Vĩnh Bảo (cũ) nay là xã Vĩnh Hải, thành phố Hải Phòng. Long cốt của vị vua thứ tư là Mạc Phúc Nguyên cùng vợ là Hoàng hậu Nam Phương lại thêm bà mẹ là Uyển Nhân phu nhân. Những điều trên được ghi tại bia đá của cụ làm vào tháng 6 năm Diên Thành thứ 8 (1585). Cụ viết: 三帝埋婦里 陽鄉下彤村 Tam đế mai phụ lý Dương hương Hạ Đồng thôn (Ta cùng ba vua về ẩn táng tại quê vợ ta là làng Dương thôn Hạ Đồng). Tên bia mộ vua Mạc Tuyên Tông cụ viết: 莫朝睿皇帝同宗阮公文達之九原 Mạc triều Duệ Hoàng đế đồng tông Nguyễn Công Văn Đạt chi Cửu Nguyên (Đây là khu mộ của vua Mạc tuyên Tông và dòng họ nhà ông Nguyễn Văn Đạt) 延成八年大暑節徒密刊致仕中庵鄉阮老撰 Diên Thành bát niên đại thử tiết, đồ mật san, trí sĩ Trung Am hương Nguyễn Lão soạn (Bia làm vào tháng 6 năm Diên Thành thứ 8 (1585) do cụ già nghỉ hưu thôn Trung Am soạn (tức là Cụ Trạng), học trò bí mật khắc). tháng 11 năm ấy cụ qua đời.
LỜI KẾT
Lịch sử Việt Nam giai đoạn nhà Mạc tới nay đã gần 500 năm, nỗi oan khuất của vua Mạc Đăng Dung vẫn còn day dứt, khu mộ của các vị vua Mạc và của cụ Trạng ở Ao Dương vẫn bị chính quyền ghẻ lạnh.Trong sấm của cụ có câu: Rồng nằm bể cạn mấy ai hay… Mong đến một ngày, tâm nguyện "Ngã cầu Mạc đắc chiêu" - "Ta muốn nhà Mạc được sáng tỏ" của cụ Trạng thành hiện thực. Khi đó, khu mộ các vua Mạc và mộ cụ Trạng sẽ là chốn tâm linh trang trọng của dân tộc. Vĩnh Bảo, ngày 15 tháng 8 năm Bính Ngọ (2026) CHÚ THÍCH
1-Long cốt của 3 vị vua: Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh, Mạc Phúc Hải được cụ bí mật đưa về thôn Hạ Đồng xã Cộng Hiền huyện Vĩnh Bảo, nay là xã Vĩnh Hải, Hải Phòng cũn là nơi an táng của cụ.
2-Long cốt của vua Mạc Phúc Nguyên cùng hài cốt của Hoàng Hậu Nam Phương, Phu nhân Uyển Nhân được cụ bí mật đưa về khu Cửu Nguyên, thuộc bãi Triều Cao, thôn Thanh Trì, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, nay là xã Tân Minh, Hải Phòng.
3-Hoàng Hậu Nam Phương sinh ra Mạc Mậu Hợp, người buông rèm chấp chính vì Mạc Mậu Hợp lên ngôi năm 2 tuổi.
4-Phu nhân Uyển Nhân họ Phạm, người làng Bào Am huyện Vĩnh Lại, là người bà con của cả họ Nguyễn, họ Nhữ, được phủ họ Nhữ đón về nuôi từ nhỏ, cho ăn học tử tế, sau đứng vị trí “Thập sư”, làm nhiệm vụ dạy dỗ trẻ con trong phủ họ nhữ.
5-Tại sao Uyển Nhân phu nhân sinh ra Mạc Phúc Nguyên mà không được gọi là Hoàng Thái Hậu? Vì bà có xuất thân khá bình thường nhưng lại sinh được con trai duy nhất cho nhà vua, Hoàng hậu và các phi tần khác đều không có con trai, bà lại nhập cung sau các vị khác. Số là năm 1535 trong thời Mạc Đăng Doanh, cụ Trạng tham gia thi và đỗ Trạng nguyên được bổ làm quan Tả thị lang Bộ Lại, Hàn Lâm Đông Các Đại học sĩ, Cụ Trạng thấy thái tử Mạc Phúc Hải tuy có nhiều phi tần vẫn không có con trai, ngôi thái tử khả năng bị đe dọa, Cụ Trạng liền tìm tới gặp trực tiếp, xem tướng mạo, lấy tử vi cho thái tử, sau đó khuyên thái tử nên kết hôn với người con gái có bát tự, có phương vị theo yêu cầu sẽ được như ý nguyện. Thái tử liền giao việc tìm người cho cụ Trạng. Cụ Trạng về bên ông ngoại là phủ họ Nhữ (Nhữ Văn Lan), thấy một người con gái nhan sắc mười phần xinh đẹp, nết na dịu dàng, được học hành tử tế, hỏi ra mới biết đó là người Bào Am, huyện Vĩnh Lại họ Phạm, là người bà con của cả họ Nhữ, họ Nguyễn, được họ Nhữ đón về phủ, nuôi dạy từ nhỏ, lớn lên được coi là “Thập sư” làm thày dạy của các con trẻ trong phủ. Sau khi được tuyển vào cung, cuối năm sau bà sinh được con trai đặt tên là Mạc Phúc Nguyên (1536), các sử gia ghi Mạc Phúc Nguyên sinh năm 1535 là sai. Đó cũng là lý do vì sao cụ Trạng lại di dời hài cốt của bà về cùng hài cốt của vua Mạc Tuyên Tông. Vĩnh Bảo ngày 15 tháng 8 năm Bính Ngọ (2026)
.
Hoàng Vũ
.
Các tin khác
-
Khởi tố vụ án 'làm nhục người khác' sau tố giác của nhà văn Gào
-
Vì sao bài thơ 'Bắt nạt' lại tạo sóng tranh cãi?
-
85% nhà sản xuất sách nói đã dùng AI, liệu con người có bị thay thế?
-
TUỔI THỌ CÁC NHÀ VĂN VIỆT NAM (Top 50)
-
ĐỂ HỒ GƯƠM MÃI LÀ HỒ GƯƠM
-
Ra mắt bộ sách về người đứng đầu lực lượng Công an nhân dân qua các thời kỳ
-
Lùi thời gian tổ chức Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam
-
Đằng sau bài thơ "Lượm" là một gia đình đã chờ đợi hơn 80 năm
-
TRÍCH HỒ SƠ “VỤ ÁN VỀ KINH BẮC 1982-1985” MÀ TÔI ĐÃ TỔNG KẾT
-
Cục Xuất bản có vài chục người, không thể đọc tiền kiểm

