/Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong/. Thơ Thanh Tịnh

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

THƠ VĂN BẠN BÈ

TÁY PÚ XẤC CỦA NGUYỄN KHÔI

 Cùng với “quắm tố Mướng” là truyện Táy Pú Xấc “Người Thái đánh giặc” là một sử thi tầm cỡ về “kể ông cha chinh chiến”…

TÁY PÚ XẤC CỦA NGUYỄN KHÔI

.

     Cùng với “quắm tố Mướng” là truyện Táy Pú Xấc “Người Thái đánh giặc” là một sử thi tầm cỡ về “kể ông cha chinh chiến”…

Táy ở đây dùng đa nghĩa, như “trên đường đi” gọi là Táy Tang, qua cầu là Táy Khua, đọc chữ là Táy Xư, kể chuyện là Táy Quắm Tố… Táy nghĩa là kể.

Pú là ông nội, người tôn kính  như “Bác”, Pú ở đây là ông cha, lãnh tụ, thủ lĩnh.

Xấc là chiến tranh: Đi trận là Pay xấc, đánh trộm là tặp xấc, dấy binh là diệt xấc, nổi loạn là xấc phản, giặc ngoại xâm là xấc chinh mương, hay xấc cướp mường, hay xấc pua mương. Mặt trận là nả xấc, cuộc chiến là Chộ xấc, đi chiếm đất là xấc to mương – “xấc” đánh nhau cả xâm lược lẫn tự vệ.

Nội dung thư theo lịch sử của Quắm tố mướng, mở đầu từ Tạo Lò tới Cầm Nho (Kăm nho) là 50 đời.

Sử thi viết theo lối hát “khắp” dùng rộng rãi trong sinh hoạt văn hóa đời thường và nghi lễ.

Mở đầu là:

Cạy hin pẻn ke ma bốc

Nộc tót háy tai thẩy

Tai thẩy tai ti non

Tai cuông côn cuông kon mạy xọk

Pú hók lộm khẩu heo Tông Lo

Chang nháư tai thót nguông thót nga pạt

phạk Tao, u, khong…

          Ẩy đá dẹp đá tảng lên cạn

          Chim gõ kiến chết già

          Chết già tại nơi nằm

          Chết trong bộng trong cành cây Xọ

          Cụ Tổ đổ xuống vào  mộ đồng Lò

          Voi lớn chết rụng vòi ngà bên sông Thao,

                                      nậm u, MêKông…

          Đoạn tả Lò Lạng Chượng đem quân đi đánh chiếm Mường La

          Mi khỏi kôn pay cón

          Hảư Ải Ón uôn tang

          Tốc Xả chi, Xả cha

          Tốc Mương Bá, Mương Ai

          Tốc Mương Chai, Mương chiến

          Tốc Pák chiến ti nặm hăm

          Tốc Pák Păm ti nặm hạk

          Pọng cánh quen phăn hủa

Phăn hủa hảư kôn xen kôn păn pú bải

Có chân sai đi trước

Cho Ải Ón dẫn đường

Đến Xá chi, Xá cha

Đến Mường Bá, Mường Ai

Đến Mường Chai, Mường chiến

Đến ngả suối chiến nơi sóng cuộn

Đến ngả suối Păm nơi nước phèn

Pọng và Quen (quan và dân) đóng thuyền

Đóng thuyền cho quân ức quân nghìn cụ bơi.

Đoạn kết:

          Bản Lụa (Thuận Châu) Ho Luông Sinh pay xảng / lau diên ké xia tạu   

          Thẩu xia bản xia na

          Chắng púk hảư Ho Luông Tiên pay kín

          Đin na Lụa na Lài to đaư coi xảng

          Hák vá Sen Lộc lau Ké xia tạu

          Thẩu xia bản xia na

          Chẩu xáư hảư Pọng An dệt Sen

          Đin na tạu tin đán

          Bản Pán Vạy Mo Yên mưa khẩu

          Bản Té pẩu chiên vạy bấu kha

          Kọ pưa pang xên phon chu tang mãn hụ

          Bản Lăng hảư sự Phúc mưa kin

          Đin Na Lăng to đaư coi xảng

          Cựt áo quảng hom pay chom tom.

          Ho Luông sinh vun đắp Bản Lụa

          Lại đã già lìa can

          Khuất lìa bản lìa ruộng

          Mới để Ho luông Tiên mà vào hưởng ăn

          Bao đất ruộng Lụa, ruộng Lài hãy quản

          Nhưng rồi Sen Lộc đã già lìa can

          Khuất lìa bản lìa ruộng

          Pọng An được cụ (chúa) cất nhắc làm Sen

          Bao đất ruộng bản Mòn hãy quản

          Ruộng trải tận chân lèn

          Mo yên vào bản Pán

          Bản thủa ông cha truyền lại không buông

          Bởi thông thạo mọi đường cúng tế

          Bản Lăng dành Sự phúc lên “ăn”

          Bao ruộng đất (ở bản) Lăng hãy quản

          Lo rộng tính xa dân chúng sum vầy.

                                                                   (Theo Vương Trung).

.

THƠ CA THÁI 

.

Xứ Thái, có thể nói là xứ sở của hát thơ (khắp xư).

Vốn thơ ca cổ truyền từ các tập biên niên sử “Quắm tố mướng” hoặc sử thi  “Tày pú xấc” cho đến các truyện thơ tình như Sống chụ son sao, Khun lú, Náng Ủa, Tản chụ xiết xương, sử thi chương Han….với các bài thơ, ca dao đều được dùng để “khắp” (hát)….

Bước đầu đã có làn điệu “lòng bản” và cách hát riêng cho mỗi loại bài thơ, xét theo hình thái sinh hoạt âm nhạc phân ra làm 2 hệ – theo Dương Đình Minh Sơn thì:

– Hệ tín ngưỡng “hát thơ mo” do giới mo then hát khi cúng tế lễ.

– Hệ dân gian: hát kể chuyện tự sự, hát thơ tình, hát ví, hát hò trên sông, hát ru, hát đồng dao……vv….

Ở người Thái 2 chữ “thơ ca” quả là đầy đủ và ý nghĩa “Thơ để giải bầy nỗi lòng, ca (hát) để ngâm vài lời thơ gửi đến những cõi lòng ai đó”.

Thơ Thái là 1 thứ “kinh thi” bản địa, hồn quê hòa đồng với thiên nhiên trời đất. Thơ dân gian Thái có 1 khối lượng đồ sộ với các truyện thơ, sử thi như đã nói ở trên đã trở thành các tác phẩm thơ cổ điển nổi tiếng.

Thơ đương đại của các tác giả Thái Sơn La (thời cách mạng xã hội chủ nghĩa) thường dùng lời thơ để hát (khắp xư) nói lên chí khí vươn lên của dân tộc mình, làm chủ bản Mường, cùng nhau đoàn kết các dân tộc anh em dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng Đất nước ngày 1 giàu mạnh – xin dẫn 1 số bài mới.

.

NGUYỄN KHÔI 

(Còn nữa)